Hồ Thiên tự
Bỏ lại câu chuyện trang nghiêm của những phật tử ở Ngọa Vân trong nuối tiếc, chúng tôi tìm đường sang chùa Hồ Thiên. Con đường băng rừng rợn ngợp dưới những tán trúc dày đặc như không thấy mặt trời. Vài tán cây lá đỏ ối ven đường, hoa mua tím lác đác, đôi khi lại bắt gặp một bãi than “thổ phỉ” nham nhở và đen đúa.
Hồ Thiên là ngôi chùa nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, từng là trung tâm Phật giáo dưới thời Trần. Năm 1998, chùa được phát hiện trên dãy Yên Tử bởi Ban bảo tồn thiên nhiên tỉnh Bắc Giang.
Hồ ở độ cao chừng 500 m, ngang với chùa Hoa Yên đồ sộ ở sườn Đông, nằm giữa hai ngọn núi chạy song song, có thế tựa như chiếc ngai tựa vào lưng núi. Sau hàng trăm năm bị bỏ quên trong rừng rậm, khi được trở lại với cõi thực, chùa đã cùng chung “số phận” với am Ngọa Vân, chẳng còn gì ngoài những phế tích.
Những dấu tích vách tường dày gần 1m, hàng chân cột đá xanh hình hoa sen phẳng lỳ xếp thẳng hàng rộng thênh thang, tháp đá 7 tầng sừng sững đã chứng minh vị thế của Hồ Thiên, đồng thời cũng cho thấy sự tàn phá khủng khiếp của hậu thế. Năm 2002, một ngôi chùa đơn sơ được dựng lại dựng trên nền cũ. Năm 2006, chùa đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.
Sư thầy trụ trì chùa Hồ Thiên - Thích Đạt Ma Trí Thông đã ở đây gần 11 năm, một mình tu thiền và coi sóc những di sản còn lại của những bậc tiền nhân. Những năm gần đây, cuộc sống của thầy bớt kham khổ hơn nhờ vào những phật tử vài ba ngày lại băng rừng lên núi mang theo thực phẩm và đồ dùng cần thiết.
Trong không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối, chúng tôi lắng nghe thầy trò chuyện về những lẽ sống ở đời, mới thấy đạo và đời chẳng bao giờ tách xa nhau. Hình ảnh bậc thiền sư áo vàng ngồi trong tư thế kiết già, giọng nói ấm áp và nụ cười hiền từ cứ ám ảnh mãi trong tôi về những con người vứt bỏ mọi tục lụy trần thế, gửi mình nơi cửa Phật.
Chúng tôi gặp vài Phật tử đang làm công quả trên chùa, cùng nhau đi chặt củi, hái rau, tự mình nấu bữa cơm thanh đạm nhưng đầy ý nghĩa. Nể lời chúng tôi, anh Khang, một họa sĩ thiết kế từ Hà Nội, đã dẫn chúng tôi lên am Rồng, dốc núi khó khăn gấp mấy lần so với đường lên Hồ Thiên, chỉ có cách vạch tán lá, bám dây leo mà đi.
Từ chùa nhìn ra chỉ thấy biển mây mù quanh năm, mây ùa đến rồi lại bay đi, quẩn mãi quanh chân. Tôi tự hỏi cái tên Hồ Thiên, phải chăng là “biển trời”, nơi chỉ thấy mênh mang mây và gió? Trong không gian mờ ảo của mây mù, bóng áo tràng xám phất phơ trên những bậc đá, mọi người cùng làm lễ sám hối trước tượng Trúc Lâm Tam tổ. Lúc ấy, một kẻ “ngoại đạo” như tôi chợt hiểu phần nào về sự giác ngộ.
Đêm hôm ấy chúng tôi xin nghỉ lại ở Hồ Thiên. Tiếng mưa rơi gõ lộp độp trên mái đá dường như càng làm không gian thêm tĩnh lặng. Người Phật tử đồng hành ngồi thiền đến khuya dưới ánh nến vàng vọt, khiến tôi không biết mình đang ở cõi thực thực hay mơ. Tỉnh dậy khi trời còn vừa sáng, tôi ngỡ ngàng khi nhìn ngắm cảnh vật xung quanh.
Từ biệt Hồ Thiên trở về, sư thầy không tỏ vẻ lưu luyến mà cũng chẳng có ý tiễn khách, dường như đã bỏ quên đi mọi suy nghĩ thường tình. Con đường xuống núi đôi chân đã thảnh thơi hơn nhiều, nhưng trong lòng tôi lại bộn bề suy nghĩ.
Đến bao giờ những di sản quý giá ở Tây Yên Tử mới trở về với đúng vị thế của nó. Nhưng nếu những dốc núi kia được thay thế bằng cáp treo như một dự án sắp sửa tiến hành, liệu Hồ Thiên, Ngọa Vân có còn lại vẻ u tịch thâm nghiêm, thứ thực sự dành cho những con người muốn lánh tục mà tìm đến hay không?